1. Trách nhiệm hình sự là gì?
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, hậu quả pháp lý bất lợi mà một người (hoặc pháp nhân thương mại) phải gánh chịu trước Nhà nước khi họ thực hiện một hành vi bị Bộ luật Hình sự coi là tội phạm.

Hình ảnh minh họa về loại trừ trách nhiệm hình sự
Nguồn: Internet
2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
– Căn cứ pháp lý: Điều 2 và Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
– Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
– Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mới phải chịu trách nhiệm hình sự
3. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
– Căn cứ pháp lý: Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
3.1. Sự kiện bất ngờ
Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.3. Phòng vệ chính đáng
– Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
– Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
3.4. Tình thế cấp thiết
– Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
– Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
– Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
– Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.
– Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.6. Rủi ro trong nghiên cứu, thủ nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.
Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp sau:
+ Phạm tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 421 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017).
+ Phạm tội chống loài người trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 422 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017 ).
+ Là tội phạm chiến tranh trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 423 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017).
Lưu ý: Các nội dung tư vấn hoặc văn bản pháp luật được trích dẫn trên có thể đã thay đổi hoặc hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại. Khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại: 0975.866.929 để được tư vấn hỗ trợ một cách chính xác.
Xem thêm:
Xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật
⚖️ Bạn đang gặp vướng mắc pháp lý và cần được tư vấn kịp thời?
Đừng để quyền lợi hợp pháp của mình bị ảnh hưởng.
Hãy liên hệ ngay với Công ty Luật TNHH Bạch Long – nơi luôn tận tâm lắng nghe và đưa ra giải pháp pháp lý hiệu quả cho Quý khách hàng.
Công ty Luật TNHH Bạch Long tự hào là đơn vị tư vấn và cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, quy tụ đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm thực tiễn, chuyên môn sâu rộng và luôn tận tâm trong từng vụ việc. Với phương châm: “Quyền lợi của bạn – Vinh hạnh của chúng tôi”
📍 Địa chỉ: Số 10 ngõ 40 Trần Vỹ, phường Phú Diễn, TP Hà Nội
📞 Hotline: 0975.866.929
📧 Email: Luatbachlong@gmail.com
